Theo văn bản gửi các sở GD&ĐT, chuyển đổi số được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên trong năm học 2026-2027, gắn trực tiếp với đổi mới phương thức quản lý, quản trị, dạy học, kiểm tra, đánh giá và cung cấp dịch vụ giáo dục.
Việc triển khai phải được kiểm đếm bằng sản phẩm, kết quả và tác động cụ thể; thực hiện theo tinh thần “6 rõ”: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền.
Dữ liệu cập nhật một lần, sử dụng nhiều lần
Bộ GD&ĐT yêu cầu chuyển mạnh từ dữ liệu phân tán sang dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”; từ phần mềm riêng lẻ sang nền tảng số dùng chung, kết nối, liên thông; từ ứng dụng AI tự phát sang ứng dụng AI an toàn, có kiểm soát và có trách nhiệm.
Người học và nhà giáo được xác định là trung tâm, lấy sự thuận tiện, hiệu quả và chất lượng phục vụ làm thước đo. Chuyển đổi số phải góp phần giảm thủ tục, hồ sơ, báo cáo, thao tác thủ công và gánh nặng hành chính.
Một trong những nguyên tắc được đặt ra là “dữ liệu cập nhật một lần, sử dụng nhiều lần”. Theo đó, không yêu cầu cung cấp lại thông tin, nhập lại dữ liệu hoặc báo cáo những số liệu đã có và có thể khai thác, sử dụng theo quy định.
Bộ GD&ĐT cũng yêu cầu tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan quản lý giáo dục và cơ sở giáo dục đối với tiến độ, chất lượng, hiệu quả chuyển đổi số.
Các đơn vị cần gắn kết chặt chẽ giữa bộ phận chuyên môn, công nghệ và dữ liệu; xác định chuyển đổi số là nhiệm vụ chung, gắn với hoạt động chuyên môn của từng đơn vị, không chỉ là nhiệm vụ của bộ phận công nghệ thông tin.
Hoàn thành làm sạch dữ liệu trước ngày 30/10
Các sở GD&ĐT được yêu cầu tiếp tục rà soát, chuẩn hóa, làm sạch và cập nhật đầy đủ dữ liệu về cơ sở giáo dục, người học, đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý cùng các dữ liệu chuyên ngành trên cơ sở dữ liệu ngành Giáo dục.
Đợt rà soát, làm sạch dữ liệu phải hoàn thành trước ngày 30/10/2026 và sau đó tiếp tục được cập nhật thường xuyên.

Học bạ số được triển khai thống nhất, bảo đảm dữ liệu được tạo lập từ dữ liệu gốc của cơ sở giáo dục, được kiểm tra, phê duyệt, ký số và đồng bộ lên cơ sở dữ liệu của Bộ GD&ĐT. Qua đó, từng bước hình thành hồ sơ học tập số, hồ sơ học tập suốt đời của mỗi người học.
Đối với văn bằng, chứng chỉ lịch sử của những người sinh từ năm 1970 trở lại đây, việc rà soát, số hóa và đồng bộ lên cơ sở dữ liệu của Bộ GD&ĐT phải hoàn thành trước ngày 30/11/2026.
Bộ cũng yêu cầu tăng cường kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu phục vụ quản lý, điều hành, dự báo, hoạch định chính sách và cung cấp dịch vụ trên môi trường số; hạn chế tối đa việc tạo thêm đầu mối thu thập, cập nhật dữ liệu.
Từng bước sử dụng thống nhất các nền tảng số dùng chung
Trong năm học mới, các sở GD&ĐT tổ chức triển khai, thí điểm Nền tảng số quốc gia quản trị giáo dục và đào tạo theo kế hoạch, hướng dẫn của Bộ GD&ĐT. Nền tảng bao gồm Nền tảng quản trị cơ sở giáo dục và Nền tảng phân tích, khai thác dữ liệu phục vụ quản lý, điều hành giáo dục.
Các đơn vị tổ chức triển khai, sử dụng thống nhất Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo; đồng thời rà soát các phần mềm, hệ thống thông tin đang sử dụng để kết nối, tích hợp với các nền tảng số dùng chung theo tiêu chuẩn, yêu cầu kỹ thuật của Bộ.
Trong dạy học, Bộ GD&ĐT yêu cầu tổ chức dạy học trực tuyến, dạy học kết hợp theo quy định và phù hợp với điều kiện thực tế. Việc kiểm tra, đánh giá trên môi trường số, trên máy tính được thực hiện từng bước tại những cơ sở giáo dục có đủ điều kiện, bảo đảm công bằng, an toàn và bảo mật.
Các đơn vị tiếp tục phát triển, chuẩn hóa, khai thác và chia sẻ học liệu số, ngân hàng câu hỏi, thư viện điện tử, thư viện số; phối hợp phát triển Kho học liệu số dùng chung của ngành.
Đối với giáo dục mầm non, công nghệ số chủ yếu được ứng dụng để hỗ trợ quản trị, phát triển chuyên môn nhà giáo, thiết kế hoạt động giáo dục và phối hợp với gia đình; đồng thời phải bảo đảm sức khỏe, an toàn, quyền riêng tư và phù hợp với đặc điểm phát triển lứa tuổi của trẻ.
AI không thay thế trách nhiệm chuyên môn của nhà giáo
Một nội dung đáng chú ý trong văn bản là yêu cầu thúc đẩy ứng dụng trí tuệ nhân tạo an toàn, có kiểm soát và có trách nhiệm trong giáo dục.
Các sở GD&ĐT lựa chọn những bài toán phù hợp để triển khai, thí điểm AI; khuyến khích sử dụng công nghệ này hỗ trợ nhà giáo chuẩn bị bài, xây dựng học liệu, thiết kế hoạt động dạy học, kiểm tra, đánh giá và hỗ trợ người học.
AI cũng có thể hỗ trợ cán bộ quản lý tổng hợp, phân tích dữ liệu, dự báo, ra quyết định và thực hiện các nhiệm vụ hành chính.
Tuy nhiên, Bộ GD&ĐT nhấn mạnh kết quả do AI tạo ra phải được kiểm chứng về tính chính xác, phù hợp. AI không thay thế trách nhiệm chuyên môn và trách nhiệm ra quyết định của nhà giáo, cán bộ quản lý.
Các cơ sở giáo dục được yêu cầu rà soát, ban hành quy định, quy tắc sử dụng AI phù hợp với đối tượng người học và hoạt động giáo dục; xác định rõ các trường hợp được sử dụng, hạn chế hoặc không được sử dụng AI; trách nhiệm của người sử dụng cùng các yêu cầu về an toàn dữ liệu, minh bạch, kiểm chứng, độ tin cậy của nội dung và liêm chính học thuật.
Các sở GD&ĐT đồng thời phối hợp triển khai, thí điểm Nền tảng giáo dục thông minh quốc gia ứng dụng AI có kiểm soát theo kế hoạch, hướng dẫn của Bộ. Chất lượng, hiệu quả, mức độ an toàn và tác động đối với nhà giáo, người học phải được đánh giá trước khi xem xét triển khai trên diện rộng.
Ưu tiên hạ tầng số tại vùng khó khăn, miền núi, hải đảo
Bộ GD&ĐT yêu cầu rà soát, bảo đảm hạ tầng số, kết nối Internet và thiết bị đáp ứng yêu cầu quản lý, quản trị, dạy học, kiểm tra, đánh giá và sử dụng các nền tảng số.
Trong đó, ưu tiên khắc phục khó khăn về điện, kết nối và thiết bị tại vùng khó khăn, miền núi, hải đảo và các điểm trường lẻ.
Các đơn vị phải thực hiện đầy đủ quy định về bảo đảm an toàn hệ thống thông tin theo cấp độ, an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân; thường xuyên kiểm tra, đánh giá, khắc phục lỗ hổng, điểm yếu; sao lưu, dự phòng, phục hồi dữ liệu và xây dựng phương án ứng phó, xử lý sự cố.
Bộ GD&ĐT cũng yêu cầu tăng cường quản lý tài khoản, phân quyền truy cập, nhật ký hệ thống; kiểm soát việc truy cập, khai thác, kết nối và chia sẻ dữ liệu; đồng thời nâng cao nhận thức, kỹ năng về an toàn thông tin, an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân cho cán bộ quản lý, nhà giáo, nhân viên và người học.
(Xem toàn bộ Công văn số 6020/BGDĐT-KHCNTT TẠI ĐÂY)









