Bè vó của cha

Chu Hải
TNTP - Phố huyện nơi tôi sống hồi nhỏ nằm bên một dòng sông. Ngày ấy, nhà tôi nghèo. Cha tôi ngoài công việc đồng áng ra còn sắm một chiếc bè vó để hằng đêm đánh cá.

Chiếc bè vó được kết bằng những cây tre già, loại tre gai vừa to vừa thẳng và dài. Cần vó và gọng vó là những cây tre to chừng bắp chân, loại tre đặc ruột, đốt ngắn. Túp lều vó nằm ở cuối bè. Trong lều có chiếc giát giường bằng tre đập giập, đủ chỗ để nằm và chứa vài thứ đồ dùng lặt vặt khác.

Để làm chiếc bè vó này, cha tôi phải cơm nắm cơm đùm vào sâu trong rừng, cách nhà cả chục cây số để chặt tre. Những bụi tre gai góc rậm rịt, chặt được một cây thật là vất vả. Lại phải nhọc nhằn mấy ngày trời để chuyển tre về. Rồi nhờ người giúp kết bè, dựng cần, buộc gọng… Biết bao mồ hôi công sức mới có được chiếc bè vó ấy.

Ngày, cha làm quần quật cày bừa, cuốc xới, gánh phân, chăm sóc cho bãi rau, vườn mía, ruộng khoai. Tối đến, cha lại lọ mọ ra sông xuống bè kéo vó cho tận mãi khuya. Nhiều khi mờ sáng hôm sau mới về.

Thường những buổi tối, sau bữa cơm muộn, cha ngồi uống nước bên bàn trà. Đấy là giây phút thư giãn hiếm hoi của cha sau một ngày làm lụng vất vả. Cha nhìn mấy anh em tôi đang ngồi học, hỏi han chuyện trường lớp, bài vở. Có khi, cha ngồi trầm tư. Bóng cha in trên vách, lặng phắc. Hết tuần trà, cha lẳng lặng ôm bọc chăn màn, vác cây sào đi xuống sông.

Mùa lũ, tôm cá về nhiều. Những ngày ấy cha tôi ở suốt ngày trên bè vó. Chập tối, cha về nhà ăn vội vàng bát cơm rồi lại đi. Cha bảo, con nước này nhiều cá tôm lắm, phải tranh thủ cất vó. Cha choàng áo tơi, đi trong cơn mưa xối xả. Bóng cha nhòa trong màn mưa mịt mờ.

Mùa đông, nước vơi nhiều, lòng sông như hẹp lại. Những buổi sáng, sương mù mờ mịt, hơi nước từ mặt sông bốc lên ngùn ngụt như khói. Cha vẫn cần mẫn với công việc của mình. Cha thường thức dậy lúc nửa đêm, ra sông kéo vó. Nửa đêm về sáng là giờ cá đi ăn, dễ cất được cá hơn. Nhưng đó cũng là lúc sương xuống dày, nằm trong chăn ấm còn thấy rét huống chi ngoài sông hun hút gió. Cho nên những mẻ cá cha mang về mỗi sớm có biết bao nỗi tái tê.

Nhưng hồi ấy tôi còn nhỏ, làm sao biết được những điều đó. Tôi chỉ biết hễ hôm nào cha đi vó về là hôm đó có cá ăn. Bởi cá đánh được, cha tôi lựa những con tươi ngon nhất để nhà ăn, còn lại bao nhiêu mẹ tôi mới đem bán. Vì thế, bữa cơm nhà tôi thường có món cá. Cá rán mỡ, con nào con nấy cứ vàng ươm, giòn tan, béo ngậy. Nhìn chúng tôi ăn ngon lành, cha tôi cứ gật gù, hể hả. Cuộc sống khi ấy còn nghèo. Bữa ăn chủ yếu chỉ là cơm độn ngô khoai với rau xanh. Cho nên được ăn cơm với cá là đã thấy sung sướng lắm.

Cho đến bây giờ, dù bao năm tháng phôi phai, tôi vẫn nhớ gương mặt mệt mỏi của cha chợt sáng lên khi thấy chúng tôi háo hức vây quanh mớ cá tươi ngon cha đem về mỗi sớm, nhớ cảnh những bữa cơm đầm ấm hàng ngày. Ký ức của tôi về cha lúc nào cũng có hình ảnh chiếc bè vó. Với chiếc bè vó, cha đã chèo chống đưa cả nhà đi qua những tháng ngày cơ cực.

HOÀNG MINH SƠN

(Trường PTDTNT Krông Ana, Đăk Lăk)

Đọc báo điện tử Thiếu niên Tiền phong và Nhi đồng nhanh chóng, thuận tiện và an toàn hơn trên các thiết bị di động với Ứng dụng TNTP&NĐ Online

Tải ngay ứng dụng TNTP&NĐ Online TẠI ĐÂY

Bạn đang đọc bài viết Bè vó của cha tại chuyên mục Sáng Tác của Báo Thiếu niên Tiền phong và Nhi đồng. Mọi thông tin góp ý và chia sẻ, xin vui lòng gửi về hòm thư banbientap@thieunien.vn.

Bài liên quan

Bài Sáng Tác khác

Bài học từ truyện Tấm Cám

Truyện cổ tích Tấm Cám vốn rất gần gũi với đời sống tinh thần của người Việt. Tuy nhiên ở mỗi thời đại, với mỗi người, truyện Tấm Cám lại được nhìn bằng những “đôi mắt” riêng. Bài viết dưới đây là góc cảm nhận của cô giáo Linh Đa, trường Đại học Sân khấu Điện ảnh Hà Nội. Trân trọng giới thiệu cùng các bạn.

Gửi một thời thơ dại!

Cô Nguyễn Thị Linh Đa là cán bộ trẻ của trường Đại học Sân khấu Điện ảnh Hà Nội. Gắn bó với nghệ thuật nên trong trái tim cô luôn giữ được nguồn cảm xúc trong trẻo từ những ngày thơ bé. Các bạn cùng đọc một truyện ngắn rất dễ thương cô gửi tặng chúng mình nhân dịp hè về nhé!

Điều kỳ diệu phía sau vết rôm sảy trên mặt

Hằng năm, cứ vào cuối thu, khi cái nắng dịu nhẹ hòa vào làn gió se lạnh, những chiếc lá bàng đỏ rơi đầy góc phố, tôi lại chợt dừng bước, lòng bâng khuâng khó tả. Có điều gì đó từ rất sâu trong ký ức khẽ lay động, đưa tôi trở về những năm tháng cũ – nơi có một “người mẹ” thứ hai, và một vết rôm sảy mà tôi từng ghét nhất trên đời.